Bài 4: Một số rối loạn tâm lý – rối loạn lo âu

Rối loạn Lo âu là tình trạng sợ hãi và lo lắng dai dẳng và quá mức vì cảm giác không an toàn từ xung quanh.

  • Sợ hãi là phản ứng cảm xúc, thể chất và hành vi đối với một mối đe dọa có thể nhận biết được diễn ra tức thì từ bên ngoài (ví dụ như kẻ đột nhập, một chiếc xe ô tô quay trên băng).
  • Lo âu là một trạng thái cảm xúc căng thẳng, khó chịu của sự lo sợ và không thoải mái; nguyên nhân thường không rõ ràng. Lo âu ít gắn liền với thời gian chính xác của một mối đe dọa; nó có thể được dự đoán trước một mối đe dọa, tồn tại sau khi một mối đe dọa đã trôi qua, hoặc xảy ra mà không có một mối đe dọa có thể nhận biết được.

Rối loạn lo âu phổ biến hơn bất kỳ loại rối loạn tâm thần nào khác, với khoảng một phần ba số người đáp ứng tiêu chuẩn về mắc chứng rối loạn lo âu tại một thời điểm nào đó trong cuộc đời của họ. Tuy nhiên, rối loạn lo âu có xu hướng ít được chẩn đoán và có thể liên quan đến hành vi tự hại, ý định tự sát, cơn hoảng loạn. Khoảng 15% dân số Việt Nam có các rối loạn liên quan đến stress và lo âu.

Yếu tố nguy cơ

  • Nhạy cảm: Người có tính cách nhạy cảm có thể khó tự vượt ra khỏi sự lo lắng và sợ hãi một mình.
  • Tiền sử gia đình/ tuổi thơ/Tương quan gia đình: Rối loạn lo âu có xu hướng di truyền trong gia đình và tình trạng này xảy ra thông qua ít nhất 2 cơ chế (1):
    1. Đặc điểm “ức chế hành vi” thời thơ ấu dường như được di truyền phần nào và đặc điểm đó có liên quan đến việc tăng nguy cơ bị rối loạn lo âu ở tuổi thiếu niên.
    2. Nỗi sợ hãi và sự tránh né xã hội có thể được truyền sang trẻ em thông qua việc làm gương của cha mẹ và/hoặc những trải nghiệm đau thương ban đầu có thể bao gồm việc bị ngược đãi khi còn nhỏ hoặc mắc các bệnh nội khoa (ví dụ như hen suyễn). Người ta đưa ra giả thuyết rằng những trải nghiệm và khả năng dễ bị tổn thương về mặt di truyền này khiến một số trẻ em chú ý một cách bất thường đến các phản ứng thể chất và cảm xúc của chính trẻ trước căng thẳng, sau đó có thể dẫn đến rối loạn hoảng sợ và rối loạn lo âu xã hội.
  • Sang chấn: Lo lắng cũng có thể là một phản ứng với các tác nhân gây căng thẳng về môi trường và xã hội trong tuổi trưởng thành, chẳng hạn như kết thúc một mối quan hệ quan trọng hoặc gặp phải một thảm họa đe dọa tính mạng.
  • Giới: Nam giới có nhiều khả năng mắc chứng rối loạn nhân cách né tránh hơn nữ giới, có thể được coi là một chứng rối loạn lo âu đủ nặng trọng và dai dẳng để ảnh hưởng đến tính cách của người đó.
  • Lạm dụng chất: Nhiều loại chất kích thích và ma túy bất hợp pháp có thể trực tiếp gây lo lắng, bao gồm caffeine, cocaine và MDMA (thuốc lắc). Một số loại thuốc thường được sử dụng để tạo cảm giác thư giãn cũng có thể gây lo lắng. Cần sa (marijuana) gây lo lắng ở một số người, trực tiếp hoặc thông qua chất pha trộn như phencyclidine (PCP). Việc cai rượu, thuốc an thần và một số loại thuốc khác cũng có thể gây lo lắng.
  • Bệnh thể lý: 
    1. Nhiều chất dẫn truyền thần kinh có liên quan đến sự phát triển của chứng rối loạn lo âu. Hai chất dẫn truyền thần kinh chiếm ưu thế là GABA và glutamate, đóng vai trò quan trọng, cũng như các chất dẫn truyền thần kinh khác như serotonin, norepinephrine và dopamine. 
    2. Một số rối loạn bệnh lý có thể trực tiếp gây ra lo lắng. Các rối loạn này bao gồm hen suyễn, loạn nhịp tim, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), suy tim, cường giáp, hội chứng Cushing và u tế bào ưa crôm.
    3. Các loại thuốc dùng để điều trị một số rối loạn bệnh lý cũng có thể gây ra lo lắng như một triệu chứng. Bao gồm:
      • Hen suyễn (albuterol, corticosteroid, theophylline)
      • Rối loạn tăng động/giảm chú ý (thuốc kích thích và các chất kích thích khác)
      • Bệnh cường giáp (levothyroxine, liothyronine)
      • Dị ứng theo mùa (thuốc kháng histamine và thuốc chống sung huyết mũi)
      • Rối loạn co giật (phenytoin)
      • Bệnh Parkinson (levodopa)

Leave a Reply

0