ON wp-manager

Bài 6: Sơ cứu tâm lý – định nghĩa và quy trình

Sơ cứu tâm lý là gì?  Sơ cứu tâm lý là phương pháp can thiệp nhằm ổn định và giảm nhẹ các căng thẳng tâm lý cũng như gia cố khả năng tự ứng phó của cá nhân ngay sau thiên tai hay biến cố gây khủng hoảng. Sơ cứu sức khỏe tinh thần là công cụ can thiệp sớm nhằm giúp kết nối người đang gặp khó khăn về sức khỏe tinh thần với những sự hỗ trợ và điều trị cần thiết. Vậy sơ cứu tâm ý có thể định nghĩa một cách đơn giản là sự hiện diện một cách cảm thông và thấu hiểu. Được thiết kế để làm 3 điều: 1 –  Giữ sự ổn định (ngăn căng thẳng trở nên tồi tệ hơn), 2 – giảm nhẹ (giảm sự leo thang của vấn đề và làm dịu vấn đề) căng thẳng cấp tính, 3 – Tìm kiếm sự hỗ trợ chuyên sâu hơn (nếu cần). Lưu ý: sơ cứu tâm lý không bao gồm chẩn đoán và điều trị. Người sơ cứu không chấn đoán, điều trị, không thay thế vai trò chuyên môn (bác sĩ, chuyên gia, chuyên viên) mà là cầu nối quan trọng giữa người đang gặp khó khăn và nguồn hỗ trợ chuyên môn phù hợp. Trong quá trình thực hành sơ cứu, các phụ huynh thường không chỉ dừng lại ở vai trò sơ cứu mà sẽ đưa ra nhiều giải pháp hoặc đưa ra quá nhiều thông tin gây cảm giác không được lắng nghe cho người đang gặp khó khăn. Để có thể dễ dàng hình dung việc vượt quá khả năng của người sơ cứu, hãy nhìn nhận sức khỏe tâm lý tương tự như sức khỏe thể chất. Diễn giả Huỳnh Như ví dụ việc một người bị vết thương hở và người sơ cứu vật lý chỉ thực hiện việc làm sạch vết thương, cầm máu chứ không thực hiện khâu vết thương dù là một thợ may (tức là có khả năng may), việc may vết thương là việc của bác sĩ. Các bước sơ cứu tâm lý Tiếp cận Tạo tin tưởng và đảm bảo an toàn Nhận diện và đánh giá Nhu cầu Dấu hiệu và triệu chứng Sơ cứu Lắng nghe & phản hồi Ghi nhận Hỏi mở Tóm tắt Khuyến khích Khả năng tự ứng phó Kết nối gia đình & cộng đồng Tìm sự giúp đỡ chuyên môn Cung cấp thông tin Chiến lược ứng phó Nguồn lực xã hội Cơ sở điều trị Kết thúc và theo dõi

Bài 6: Sơ cứu tâm lý – định nghĩa và quy trình Read More »

Bài 5: Một số rối loạn tâm lý – Rối loạn stress hậu sang chấn

Rối loạn stress hậu sang chấn (PTSD) là tình trạng xáo trộn khả năng ứng phó của một người sau khi trải qua sự kiện gây sang chấn. Người mắc rối loạn thường có những suy nghĩ xâm nhập, ác mộng và hồi tưởng; tránh nhắc nhở về chấn thương; nhận thức và tâm trạng tiêu cực; tăng cảnh giác và rối loạn giấc ngủ. Khủng hoảng: Hành vi tự hại, ý định tự sát, lạm dụng chất, loạn thần. Việc bất ổn sau khi trải qua biến cố sang chấn là bình thường, PTSD chỉ được chấn đoán khi tình trạng kéo dài hơn 4 tuần. Yếu tố nguy cơ: Trải qua hoặc chứng kiến sự kiện đe dọa nghiêm trọng tính mạng, an toàn: Chiến đấu, tấn công tình dục, và thiên tai tự nhiên hoặc do con người gây ra. PTSD có thể dẫn đến rối loạn chức năng xã hội, nghề nghiệp và cá nhân nghiêm trọng. Tiếp xúc một thời gian dài với yếu tố gây sang chấn Các triệu chứng của PTSD có thể được chia thành 4 loại: Xâm nhập: Xâm nhập là những ký ức hoặc cơn ác mộng không mong muốn tái hiện lại sự kiện kích hoạt. Xâm nhập có thể ở dạng “hồi tưởng”, có thể được kích hoạt bởi hình ảnh, âm thanh, mùi hoặc các kích thích khác. Ví dụ: một tiếng động lớn có thể khơi dậy ký ức về một vụ hành hung, khiến người đó hoảng sợ ném mình xuống đất. Né tránh: Những người bị PTSD có thể tránh những lời nhắc nhở về chấn thương tâm lý, chẳng hạn như các khu vực cụ thể trong thị trấn hoặc các hoạt động yêu thích trước đây. Những thay đổi tiêu cực trong nhận thức và tâm trạng: Những thay đổi về nhận thức và tâm trạng bao gồm sự thờ ơ và thờ ơ, nhận thức sai lệch, mất hứng thú, tự trách móc bản thân không phù hợp và trầm cảm. Thay đổi về kích động và phản ứng: Những người bị PTSD có thể biểu hiện sự kích động, khó chịu và phản ứng quá mức hoặc họ có thể tỏ ra tê liệt và xa cách.

Bài 5: Một số rối loạn tâm lý – Rối loạn stress hậu sang chấn Read More »

Bài 4: Một số rối loạn tâm lý – rối loạn lo âu

Rối loạn Lo âu là tình trạng sợ hãi và lo lắng dai dẳng và quá mức vì cảm giác không an toàn từ xung quanh. Sợ hãi là phản ứng cảm xúc, thể chất và hành vi đối với một mối đe dọa có thể nhận biết được diễn ra tức thì từ bên ngoài (ví dụ như kẻ đột nhập, một chiếc xe ô tô quay trên băng). Lo âu là một trạng thái cảm xúc căng thẳng, khó chịu của sự lo sợ và không thoải mái; nguyên nhân thường không rõ ràng. Lo âu ít gắn liền với thời gian chính xác của một mối đe dọa; nó có thể được dự đoán trước một mối đe dọa, tồn tại sau khi một mối đe dọa đã trôi qua, hoặc xảy ra mà không có một mối đe dọa có thể nhận biết được. Rối loạn lo âu phổ biến hơn bất kỳ loại rối loạn tâm thần nào khác, với khoảng một phần ba số người đáp ứng tiêu chuẩn về mắc chứng rối loạn lo âu tại một thời điểm nào đó trong cuộc đời của họ. Tuy nhiên, rối loạn lo âu có xu hướng ít được chẩn đoán và có thể liên quan đến hành vi tự hại, ý định tự sát, cơn hoảng loạn. Khoảng 15% dân số Việt Nam có các rối loạn liên quan đến stress và lo âu. Yếu tố nguy cơ Nhạy cảm: Người có tính cách nhạy cảm có thể khó tự vượt ra khỏi sự lo lắng và sợ hãi một mình. Tiền sử gia đình/ tuổi thơ/Tương quan gia đình: Rối loạn lo âu có xu hướng di truyền trong gia đình và tình trạng này xảy ra thông qua ít nhất 2 cơ chế (1): Đặc điểm “ức chế hành vi” thời thơ ấu dường như được di truyền phần nào và đặc điểm đó có liên quan đến việc tăng nguy cơ bị rối loạn lo âu ở tuổi thiếu niên. Nỗi sợ hãi và sự tránh né xã hội có thể được truyền sang trẻ em thông qua việc làm gương của cha mẹ và/hoặc những trải nghiệm đau thương ban đầu có thể bao gồm việc bị ngược đãi khi còn nhỏ hoặc mắc các bệnh nội khoa (ví dụ như hen suyễn). Người ta đưa ra giả thuyết rằng những trải nghiệm và khả năng dễ bị tổn thương về mặt di truyền này khiến một số trẻ em chú ý một cách bất thường đến các phản ứng thể chất và cảm xúc của chính trẻ trước căng thẳng, sau đó có thể dẫn đến rối loạn hoảng sợ và rối loạn lo âu xã hội. Sang chấn: Lo lắng cũng có thể là một phản ứng với các tác nhân gây căng thẳng về môi trường và xã hội trong tuổi trưởng thành, chẳng hạn như kết thúc một mối quan hệ quan trọng hoặc gặp phải một thảm họa đe dọa tính mạng. Giới: Nam giới có nhiều khả năng mắc chứng rối loạn nhân cách né tránh hơn nữ giới, có thể được coi là một chứng rối loạn lo âu đủ nặng trọng và dai dẳng để ảnh hưởng đến tính cách của người đó. Lạm dụng chất: Nhiều loại chất kích thích và ma túy bất hợp pháp có thể trực tiếp gây lo lắng, bao gồm caffeine, cocaine và MDMA (thuốc lắc). Một số loại thuốc thường được sử dụng để tạo cảm giác thư giãn cũng có thể gây lo lắng. Cần sa (marijuana) gây lo lắng ở một số người, trực tiếp hoặc thông qua chất pha trộn như phencyclidine (PCP). Việc cai rượu, thuốc an thần và một số loại thuốc khác cũng có thể gây lo lắng. Bệnh thể lý:  Nhiều chất dẫn truyền thần kinh có liên quan đến sự phát triển của chứng rối loạn lo âu. Hai chất dẫn truyền thần kinh chiếm ưu thế là GABA và glutamate, đóng vai trò quan trọng, cũng như các chất dẫn truyền thần kinh khác như serotonin, norepinephrine và dopamine.  Một số rối loạn bệnh lý có thể trực tiếp gây ra lo lắng. Các rối loạn này bao gồm hen suyễn, loạn nhịp tim, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), suy tim, cường giáp, hội chứng Cushing và u tế bào ưa crôm. Các loại thuốc dùng để điều trị một số rối loạn bệnh lý cũng có thể gây ra lo lắng như một triệu chứng. Bao gồm: Hen suyễn (albuterol, corticosteroid, theophylline) Rối loạn tăng động/giảm chú ý (thuốc kích thích và các chất kích thích khác) Bệnh cường giáp (levothyroxine, liothyronine) Dị ứng theo mùa (thuốc kháng histamine và thuốc chống sung huyết mũi) Rối loạn co giật (phenytoin) Bệnh Parkinson (levodopa)

Bài 4: Một số rối loạn tâm lý – rối loạn lo âu Read More »

Bài 3: Một số rối loạn tâm lý – Loạn thần

Loạn thần là tình trạng một người mất khả năng liên hệ với thực tại, với biểu hiện chính là ảo giác và hoang tưởng. Tình trạng này gặp chủ yếu ở bệnh nhân nghiện rượu, ma túy, mắc các bệnh thực tổn ở não hoặc các rối loạn tâm thần. Người bị loạn thần sẽ có ảo giác, hoang tưởng không phù hợp với thực tế. Đồng thời có niềm tin mãnh liệt với các hoang tưởng, ảo giác, mặc dù thực tế cho thấy những bằng chứng thuyết phục phản bác lại điều này. Hoang tưởng  Đây là một niềm tin sai lầm được giữ vững cho dù mâu thuẫn với thực tế hay những gì thường được coi là đúng. Hoang tưởng có thể có nhiều chủ đề, thường gặp nhất bao gồm: Hoang tưởng liên hệ Những người có hoang tưởng liên hệ thường cho rằng mọi thứ đều liên quan đến họ. Khi đi ngoài đường họ có thể nghĩ rằng ai đó đang đi theo họ, dù rằng chẳng có ai đi sau. Ở nơi đông người, có nhiều nhóm người, người bệnh cho rằng đám người đó đang nói về họ. Hay một tin nhắn được gửi đến cũng khiến họ nghĩ ai đó đang gửi một thông điệp bí mật cho họ. Hoang tưởng tự cao Một người có hoang tưởng tự cao khiến họ có niềm tin mãnh liệt vào bản thân có năng lực đặc biệt. Tài năng của họ rất vượt trội, không ai có thể sánh bằng. Hoang tưởng cơ thể Người bệnh luôn luôn cho rằng mình mắc bệnh nan y. Cho dù mọi xét nghiệm, chẩn đoán của bác sĩ, không chỉ một mà nhiều bác sĩ đều cho rằng họ khỏe mạnh (trừ bác sĩ tâm thần ra).   Ảo giác Ảo giác là sự nhận biết một sự vật hiện tượng khi không có các kích thích bên ngoài, thông qua các giác quan. Tương ứng với năm giác quan là năm loại ảo giác. Ảo thanh, ảo thị, ảo khứu, áo xúc và ảo vị, thường gặp nhất là ảo thanh, ảo thị và ảo xúc. Ảo thanh Người bệnh có thể nghe thấy tiếng từ đơn giản đến phức tạp. Như tiếng còi tàu hỏa dù xung quanh chẳng có đường ray hay ga tàu nào. Hoặc tiếng nói của cô bé hàng xóm đã chuyển nhà đi từ đời nào. Hoặc thậm chí một tiếng nói lạ hoắc của một ai đó bạn không quen. Ảo thị Người bệnh nói rằng họ đang nhìn thấy Phật Quan Âm, hay Đức Chúa trời. Hoặc gần gũi hơn là người ông đã mất của mình từ mấy năm trước. Ảo xúc Thường gặp ở những người nghiện rượu mà phải ngưng rượu. Họ luôn có cảm giác có con kiến bò trên da, hoặc bị kim châm chích nhiều lần. Với ảo giác, điều quan trọng là người bệnh cảm nhận những điều này là rất thật nhưng thật ra là không có thực.   Các rối loạn có thể kèm loạn thần: rối loạn lưỡng cực, tâm thần phân liệt, rối loạn khí sắc phân liệt, rối loạn nghiện chất.   Yếu tố nguy cơ: Yếu tố di truyền: Những người có người thân trong gia đình bị bệnh loạn thần sẽ có nguy cơ mắc bệnh cao hơn bình thường. Người bị bệnh liên quan đến não: Việc mắc một số bệnh như khối u não, chấn thương não,… cũng có thể gây ra loạn thần. Thay đổi hormone, mất ngủ: Thay đổi nội tiết tố, thường xuyên mất ngủ hoặc gặp stress nặng có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh loạn thần. Do tuổi tác: Người càng cao tuổi càng dễ xuất hiện triệu chứng bệnh loạn thần. Do yếu tố tâm lý và xã hội: Sống trong một môi trường mất cân bằng về xã hội, thường xuyên phải cô đơn hoặc bị bạo hành cũng có thể tăng nguy cơ mắc bệnh loạn thần. Lưu ý: Loạn thần xảy ra theo cơn chứ không phải tình trạng liên tục hay bất thình lình Cứ 3 trên 100 người trải qua loạn thần trong đời Thường khởi phát ở độ tuổi 15-25 Can thiệp sớm là yếu tố tiên quyết

Bài 3: Một số rối loạn tâm lý – Loạn thần Read More »

Bài 2: Một số rối loạn tâm lý – Trầm cảm

Trầm cảm là tình trạng buồn trầm trọng hoặc dai dẳng đủ để ảnh hưởng vào hoạt động chức năng và thường là do giảm sự quan tâm hoặc thích thú trong các hoạt động kéo dài ít nhất 2 tuần. Nguyên nhân chính xác không rõ nhưng có thể liên quan đến việc di truyền, thay đổi nồng độ các chất dẫn truyền thần kinh, chức năng của hormone thần kinh bị thay đổi và các yếu tố tâm lý xã hội. Trầm cảm gây ra các rối loạn nhận thức, tâm thần vận động và các dạng rối loạn chức năng khác (ví dụ như tập trung kém, mệt mỏi, mất ham muốn tình dục, mất hứng thú hoặc thích thú trong hầu hết các hoạt động trước đây, rối loạn giấc ngủ) cũng như tâm trạng chán nản. Những người bị rối loạn trầm cảm thường có hành vi tự hại, ý nghĩ tự tử và có thể tìm cách tự sát.    Yếu tố nguy cơ Sang chấn: trải qua biến cố lớn, đột ngột của cuộc đời như: phá sản, bị lừa đảo mất hết tiền của, nợ nần, mất đi người thân, hôn nhân đổ vỡ, con cái hư hỏng, áp lực công việc quá lớn. Nhạy cảm: Người có tính cách nhạy cảm thường rất dễ xúc động nên sẽ có xu hướng thấu cảm mạnh mẽ các hoàn cảnh tuy nhiên cũng khó vượt qua sự đau buồn. Từng bị trầm cảm trước đó: Những người có một giai đoạn trầm cảm lớn có nguy cơ cao hơn của các giai đoạn tiếp theo.  Tiền sử gia đình: Tính di truyền chiếm khoảng một nửa bệnh nguyên (ít hơn trong trầm cảm khởi phát muộn). Do đó, trầm cảm phổ biến hơn ở những người có quan hệ huyết thống bậc một của bệnh nhân trầm cảm và mức độ phù hợp giữa các cặp song sinh giống hệt nhau là cao (1).  Bối cảnh xã hội: Những căng thẳng lớn trong cuộc sống, đặc biệt là sự chia rẽ và mất mát; tuy nhiên, các sự kiện như vậy thường không gây trầm cảm kéo dài, trầm trọng. Mất cân bằng chất hóa học trong não: những thay đổi về mức độ dẫn truyền thần kinh, bao gồm điều hòa bất thường của dẫn truyền thần kinh cholinergic, catecholaminergic (noradrenergic hoặc dopaminergic), glutamatergic và serotonergic (5-hydroxytryptamine) (2). Rối loạn điều hòa nội tiết thần kinh có thể là một yếu tố, đặc biệt chú trọng đến 3 trục: vùng dưới đồi-tuyến yên-tuyến thượng thận, vùng dưới đồi-tuyến yên-tuyến giáp và hormone tăng trưởng vùng dưới đồi-tuyến yên. Bệnh thể lý: Các triệu chứng hoặc rối loạn trầm cảm có thể đi kèm với nhiều bệnh nội khoa khác nhau, bao gồm rối loạn tuyến giáp, rối loạn tuyến thượng thận, khối u não lành tính và ác tính, đột quỵ, AIDS, bệnh Parkinson và bệnh đa xơ cứng. Dùng chất: Một số loại thuốc, chẳng hạn như corticosteroid, một số thuốc chẹn beta, interferon và reserpin, cũng có thể dẫn đến rối loạn trầm cảm. Lạm dụng một số chất kích thích và thuốc bất hợp pháp (ví dụ: rượu, amphetamine) có thể dẫn đến hoặc kèm theo trầm cảm. Tác dụng độc hại hoặc ngừng thuốc có thể gây ra các triệu chứng trầm cảm thoáng qua. Giới: Phụ nữ có nguy cơ cao hơn, nhưng không có lý thuyết giải thích tại sao. Các yếu tố có thể bao gồm: Phơi nhiễm nhiều hơn hoặc đáp ứng mạnh với căng thẳng hàng ngày Nồng độ monoamine oxidase cao hơn (enzym có vai trò làm giảm các chất dẫn truyền thần kinh được coi là quan trọng đối với khí sắc) Tỷ lệ rối loạn chức năng tuyến giáp cao hơn Sự thay đổi nội tiết xảy ra với kinh nguyệt và mãn kinh Trong trầm cảm khởi phát thời kì sinh nở, các triệu chứng phát triển trong lúc mang thai hoặc trong vòng 4 tuần sau khi sinh (trầm cảm sau sinh); những thay đổi nội tiết đã được chỉ ra là có liên quan, nhưng nguyên nhân cụ thể thì không rõ. Trầm cảm có khả năng tái phát tuy nhiên 80-90% người mắc trầm cảm đáp ứng tốt khi được điều trị

Bài 2: Một số rối loạn tâm lý – Trầm cảm Read More »

BÀI 1: Sức khỏe tinh thần là gì?

Đầu tiên chúng ta cần hiểu sức khỏe tinh thần là gì? Sức khỏe tinh thần (mental health) là tình trạng cá nhân nhận biết được tiềm năng của bản thân, có thể đương đầu được mức độ căng thẳng thường ngày, có thể làm việc hiệu quả và năng suất, và có khả năng đóng góp cho cộng đồng. (WHO) Sức khỏe tinh thần là trạng thái động của sự cân bằng nội tại, mà nhờ đó cá nhân có thể sử dụng khả năng bản thân tương hợp với các tiêu chuẩn xã hội phổ quát. Có sức khỏe tinh thần tốt tức là có đủ các thành phần sau: các kỹ năng tư duy và xã hội cơ bản; khả năng nhận diện, biểu đạt; khả năng điều tiết cảm xúc bản thân lẫn của người khác; khả năng linh hoạt đương đầu với những biến cố thường nhật; hoàn thành vai trò xã hội; có mối quan hệ hài hòa giữa cơ thể và tâm trí. Trải nghiệm những cảm xúc khó với những biến cố trong cuộc sống thường nhật là biểu hiện của sức khỏe tinh thần bình thường. Ví dụ: cảm xúc đau buồn, suy sụp khi có sự mất mát người thân là một cảm xúc khó, tuy nhiên nó hoàn toàn phù hợp với biến cố mà bạn vừa trải qua. Vậy dấu hiệu nào, chúng ta có thể cân nhắc một người đang có sức khỏe tinh thần giảm sút? Có 2 cách thường thấy để nhận ra điều này. Chính cá nhân nhận ra cảm xúc của mình ảnh hưởng sinh hoạt/ công việc hằng ngày như để nhà cửa bừa bộn đến mức khủng khiếp, cá nhân nhận thấy điều đó nhưng không thể thực hiện việc dọn dẹp. Mọi người xung quanh nhận thấy các điểm bất thường lặp đi lặp lại của cá nhân đó vì nó ảnh hưởng đến xung quanh mà cá nhân đó thì không nhận ra. Ví dụ: cá nhân tiêu dùng tiền bạc quá mức kiểm soát như mang tất cả tiền trong gia đình cho tất cả những người mà mình gặp được dù không quen biết. Có ba yếu tố có ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của một người và có thể tác động hình thành rối loạn tâm lý là sinh học, tâm lý và môi trường sống. Sinh học: các yếu tố liên quan về mặt di truyền và sự mất cân bằng các chất hóa học trong não bộ, lạm dụng chất gây nghiện có thể thúc đẩy các rối loạn tâm lý của một người. Tâm lý: những người có mức độ nhạy cảm cao hơn những người khác sẽ có nguy cơ bị ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần cao hơn. Môi trường sống: Những môi trường sống có nhiều yếu tố nguy hiểm, tấn công, bạo lực, cô lập sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của những người sống trong nó. Đi qua những kiến thức trên, chúng ta có thể thấy các trẻ sinh ra là LGBT+ vốn không phải là yếu tố hình thành các rối loạn tâm lý mà môi trường sống của trẻ mới là nguyên nhân chính. Việc kỳ thị và cô lập người LGBT+ từ cộng đồng xung quanh và gia đình vẫn tồn tại nhiều tạo cho họ một môi trường sống căng thẳng, từ đó ảnh hưởng lên sức khỏe tinh thần của họ. Là cha mẹ, người thân của người LGBT+ chúng ta cần xây dựng một môi trường sống lành mạnh để họ cảm thấy an toàn, từ đó sức khỏe tinh thần tốt, có thể ứng phó với các biến cố trong cuộc sống.

BÀI 1: Sức khỏe tinh thần là gì? Read More »

0