Bài 2: Một số rối loạn tâm lý – Trầm cảm

Trầm cảm là tình trạng buồn trầm trọng hoặc dai dẳng đủ để ảnh hưởng vào hoạt động chức năng và thường là do giảm sự quan tâm hoặc thích thú trong các hoạt động kéo dài ít nhất 2 tuần. Nguyên nhân chính xác không rõ nhưng có thể liên quan đến việc di truyền, thay đổi nồng độ các chất dẫn truyền thần kinh, chức năng của hormone thần kinh bị thay đổi và các yếu tố tâm lý xã hội.

Trầm cảm gây ra các rối loạn nhận thức, tâm thần vận động và các dạng rối loạn chức năng khác (ví dụ như tập trung kém, mệt mỏi, mất ham muốn tình dục, mất hứng thú hoặc thích thú trong hầu hết các hoạt động trước đây, rối loạn giấc ngủ) cũng như tâm trạng chán nản. Những người bị rối loạn trầm cảm thường có hành vi tự hại, ý nghĩ tự tử và có thể tìm cách tự sát. 

 

Yếu tố nguy cơ

  • Sang chấn: trải qua biến cố lớn, đột ngột của cuộc đời như: phá sản, bị lừa đảo mất hết tiền của, nợ nần, mất đi người thân, hôn nhân đổ vỡ, con cái hư hỏng, áp lực công việc quá lớn.
  • Nhạy cảm: Người có tính cách nhạy cảm thường rất dễ xúc động nên sẽ có xu hướng thấu cảm mạnh mẽ các hoàn cảnh tuy nhiên cũng khó vượt qua sự đau buồn.
  • Từng bị trầm cảm trước đó: Những người có một giai đoạn trầm cảm lớn có nguy cơ cao hơn của các giai đoạn tiếp theo. 
  • Tiền sử gia đình: Tính di truyền chiếm khoảng một nửa bệnh nguyên (ít hơn trong trầm cảm khởi phát muộn). Do đó, trầm cảm phổ biến hơn ở những người có quan hệ huyết thống bậc một của bệnh nhân trầm cảm và mức độ phù hợp giữa các cặp song sinh giống hệt nhau là cao (1). 
  • Bối cảnh xã hội: Những căng thẳng lớn trong cuộc sống, đặc biệt là sự chia rẽ và mất mát; tuy nhiên, các sự kiện như vậy thường không gây trầm cảm kéo dài, trầm trọng.
  • Mất cân bằng chất hóa học trong não: những thay đổi về mức độ dẫn truyền thần kinh, bao gồm điều hòa bất thường của dẫn truyền thần kinh cholinergic, catecholaminergic (noradrenergic hoặc dopaminergic), glutamatergic và serotonergic (5-hydroxytryptamine) (2). Rối loạn điều hòa nội tiết thần kinh có thể là một yếu tố, đặc biệt chú trọng đến 3 trục: vùng dưới đồi-tuyến yên-tuyến thượng thận, vùng dưới đồi-tuyến yên-tuyến giáp và hormone tăng trưởng vùng dưới đồi-tuyến yên.
  • Bệnh thể lý: Các triệu chứng hoặc rối loạn trầm cảm có thể đi kèm với nhiều bệnh nội khoa khác nhau, bao gồm rối loạn tuyến giáp, rối loạn tuyến thượng thận, khối u não lành tính và ác tính, đột quỵ, AIDS, bệnh Parkinson và bệnh đa xơ cứng.
  • Dùng chất: Một số loại thuốc, chẳng hạn như corticosteroid, một số thuốc chẹn beta, interferon và reserpin, cũng có thể dẫn đến rối loạn trầm cảm. Lạm dụng một số chất kích thích và thuốc bất hợp pháp (ví dụ: rượuamphetamine) có thể dẫn đến hoặc kèm theo trầm cảm. Tác dụng độc hại hoặc ngừng thuốc có thể gây ra các triệu chứng trầm cảm thoáng qua.
  • Giới: Phụ nữ có nguy cơ cao hơn, nhưng không có lý thuyết giải thích tại sao. Các yếu tố có thể bao gồm:
      1. Phơi nhiễm nhiều hơn hoặc đáp ứng mạnh với căng thẳng hàng ngày
      2. Nồng độ monoamine oxidase cao hơn (enzym có vai trò làm giảm các chất dẫn truyền thần kinh được coi là quan trọng đối với khí sắc)
      3. Tỷ lệ rối loạn chức năng tuyến giáp cao hơn
      4. Sự thay đổi nội tiết xảy ra với kinh nguyệt và mãn kinh
      5. Trong trầm cảm khởi phát thời kì sinh nở, các triệu chứng phát triển trong lúc mang thai hoặc trong vòng 4 tuần sau khi sinh (trầm cảm sau sinh); những thay đổi nội tiết đã được chỉ ra là có liên quan, nhưng nguyên nhân cụ thể thì không rõ.

Trầm cảm có khả năng tái phát tuy nhiên 80-90% người mắc trầm cảm đáp ứng tốt khi được điều trị

Gửi phản hồi

0